Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng
(PNO) - Thành phố Đà Lạt trên cao nguyên Lâm Viên không chỉ có những vườn hoa rực rỡ, con dốc uốn lượn quanh co mà còn có những hồ nước trong xanh thơ mộng. Mỗi hồ mang một nét quyến rũ riêng, luôn khiến du khách lưu luyến dù đặt chân đến lần đầu tiên hay đã nhiều lần.


1.  Hồ Xuân Hương

Nằm ngay trung tâm thành phố, vùng hồ hình lưỡi liềm đã trở thành biểu tượng của Đà Lạt. Đến đây, du khách có thể ghé các quán cà phê ven hồ tận hưởng không khí trong lành hay lãng mạn hơn là cùng nhau đạp thuyền thiên nga hoặc xe đạp đôi đi hết vùng hồ.

Những sáng sớm hay buổi chiều tà, đi bộ quanh hồ bạn có thể ngắm màn sương mỏng phủ trên mặt hồ xanh biếc. Buổi tối thì ra bờ hồ co ro trong cái lạnh về đêm và hít hà thưởng thúc những món ăn đường phố nóng hổi bên bếp than hồng. Dulichgo

2.  Hồ Tuyền Lâm

Cách trung tâm Đà Lạt 7km, hồ Tuyền Lâm được bao bọc bởi những cánh rừng thông nguyên sinh và nhiều ốc đảo rợp bóng cây xanh rải rác khắp mặt hồ.

Vào mỗi thời điểm trong năm, hồ Tuyền Lâm đều mang vẻ đẹp riêng. Những ngày khô ráo, nắng vàng lấp lánh chiếu xiên ngọn thông in bóng xuống mặt hồ trong xanh. Còn vào mùa mưa phùn, sương mù bảng lảng phía xa, giăng ngang lưng chừng núi, tiếng gió, tiếng mưa pha lẫn vào nhau trong không gian âm u, tĩnh mịch. Dulichgo

Đến hồ Tuyền Lâm, bạn cũng đừng quên du ngoạn trên hồ bằng thuyền, chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình và thưởng thức đặc sản núi rừng.

3.  Hồ Than Thở

Hồ Than Thở nằm trên một ngọn đồi cao, phía Bắc thành phố Đà Lạt, giữa rừng thông tĩnh mịch. Nơi đây còn nổi tiếng với thắng cảnh Đồi thông hai mộ, gắn liền với những truyền thuyết tình yêu dang dở.

Hồ Than Thở được khai thác du lịch nên có rất nhiều hoạt động cho du khách khi đến đây. Bạn có thể dạo bước trên những bãi cỏ xanh rì, ngắm nhìn hàng thông in bóng xuống mặt hồ hay cưỡi ngựa quanh hồ như một dân du mục thực thụ…

4.  Hồ Đa Kia - Suối Vàng

Hồ Suối Vàng gồm 2 hồ là Đa Kia ở trên và Ankoret ở dưới, được tạo bởi đập Ankoret. Cạnh đó là thác Ankoret, nơi xây dựng nhà máy thủy điện đầu tiên của Đà Lạt.

Nếu muốn tham quan hết khu vực hồ Đa Kia - Suối Vàng, bạn nên lần lượt ghé thăm Thung lũng Vàng, thác Ankoret, đập nước Suối Vàng, hồ Đa Kia. Ngoài ra, bạn cũng có thể nhìn toàn cảnh vùng hồ khi đến đỉnh núi Radar (cao 1950m) trong Khu du lịch Langbiang. Dulichgo

5.  Hồ Đa Nhim

Hồ Đa Nhim còn gọi là hồ Đơn Dương, nằm tại thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, cách thành phố Đà Lạt 40km về phía Phan Rang. Vùng hồ là bức tranh thiên nhiên hài hòa giữa trời mây, non nước và hoa lá tuyệt đẹp.

Từ hồ Đa Nhim, bạn cũng có thể khám phá đèo Ngoạn Mục - một trong những đèo núi đẹp nhất Việt Nam.

Theo An Nguyên (Phụ Nữ online)
Du lịch, GO!
(ATC) - “Ngọn núi Cốc bây giờ là hiện thân của chàng trai năm xưa, còn người yêu chàng đã hóa thân thành dòng sông Công êm dịu”.

Chỉ đơn giản là Hồ trên núi

Bất chợt một lúc nào đó bạn muốn đi, muốn chân mình không nằm trong gầm bàn làm việc nữa, khi bạn đã qua từng con đường của nhân gian hay gần hơn là những con đường tuyệt đẹp của đất nước mình, khi bạn không đủ thời gian để lên Tây Bắc, khi bạn muốn một nơi có thể vui chơi cả gia đình,... Nơi mà bạn muốn phải có núi, có non, có những con đường, có mặt nước mênh mông, có những trò chơi cho con trẻ,… thì Hồ Núi Cốc là một trong những sự lựa chọn đó.

Chúng tôi, những kẻ lữ khách đã bước chân qua những nẻo đường đất nước. Qua miền Đông Bắc giá lạnh khi đông về, qua Tây Bắc mỗi mùa hoa ban, hoa mận nở trắng cả triền đồi. Qua miền Trung yêu thương đầy nắng gió, qua miền Nam bát ngát bao la sông nước. Đi quanh đất nước mình để rồi hôm nay, lại lên với xứ chè này, lên với bài ca huyền thoại Hồ trên núi. Để đắm mình trong sắc màu của những câu chuyện kể, tôi kể bạn nghe…

Rời Hà Nội khi trời vừa tảng sáng, đi ngược dòng người đang hối hả đưa rau củ quả từ ngoại thành vào chợ sớm, chúng tôi nhằm hướng Sóc Sơn thẳng tiến, rồi rẽ theo quốc lộ 3 để lên Thái Nguyên. Con đường giờ đã được làm lại khá bằng phẳng và dễ đi. Từ trung tâm thành phố rẽ theo lối đi Đại Từ, theo con đường tỉnh lộ Đán – Tân Cương – Núi Cốc, con đường uốn mình qua những sườn đồi, qua nương chè Tân Cương nổi tiếng.

Khi bạn thấy cả những cánh rừng bạt ngàn trước mắt, thấy mùi thơm của búp chè non mà cô công nhân vừa mới hái, thấy không khí yên bình của miền sơn cước quanh quẩn dưới vệt bánh xe thì đó cũng là lúc chúng tôi bắt đầu vào Hồ Núi Cốc. Dulichgo

Hồ được tạo ra khi ngăn đập trên dòng sông Công. Toàn bộ hồ có diện tích mặt nước khá lớn (khoảng 25km2), cảnh quan sinh thái đa dạng với hơn 89 hòn đảo lớn nhỏ. Nơi đây được ví như Hạ Long của Thái Nguyên.

Nhanh chóng thuê một chiếc thuyền nhỏ, cùng cô hướng dẫn viên xinh xắn, chúng tôi bắt đầu hành trình sông nước. Con thuyền tròng trành cùng với nhịp bài hát Hồ trên núi làm cho mọi người chuếnh choáng men say. Say cảnh vật nơi đây, từng ngọn núi in bóng xuống dòng nước lặng như tờ, từng đàn cò chao liệng, may mắn còn có thể thấy cả những chú khỉ đang chuyền cành nữa.

Dường như khi mọi người đã ngấm cảnh sắc thì cô hướng dẫn mới cất lên cái giọng trong trẻo của miền núi tĩnh lặng này, câu chuyện kể về chuyện tình của chàng Cốc nàng Công, câu chuyện về hồ, về sông, về núi. Từng lời nói như càng thêm ru ngủ chúng tôi, để rồi chợt bừng tỉnh thật sự khi nghe chính cô hát lên bài hát mang tên: Huyền thoại hồ Núi Cốc. Đó cũng là lúc ánh hoàng hôn dần xuống sau núi, từng vệt vàng óng ánh trên mặt hồ thay cho màu xanh như ngọc suốt cả ngày.

Tôi dám cá với bạn rằng, trong cái khoảnh khắc tròng trành trên thuyền giữa dòng sông vàng đó thì mọi ồn ào phố thị đã tan biến từ lúc nào hết rồi.

Huyền thoại hồ Núi Cốc

Đâu chỉ có những giây phút lênh đênh sóng nước trên mặt hồ. Hay đặt chân lên đảo khỉ, đảo cò, hoặc giây phút bất ngờ khi gặp cổng tam quan bề thế trên ngọn Núi Cái. Dulichgo

Bước qua 108 bậc để lên ngôi nhà cổ hơn 200 năm với hàng ngàn hiện vật được trưng bày là các sản phẩm của các làng nghề truyền thống khắp mọi miền đất nước. Rồi vòng xuống thân đập, nơi ngăn dòng sông Công khi xưa. Và cũng đâu chỉ có những giây phút trekking khám phá hơn 80 hòn đảo còn lại…

Hồ Núi Cốc đâu chỉ có thế. Đến đây mà chưa được nghe những huyền thoại tình yêu thì coi như chưa đến. Một trong những câu chuyện đã làm nên cái tên của hồ là câu chuyện về tình yêu đôi lứa của chàng Cốc và nàng Công.

Chuyện kể rằng…

Ngày xưa có một chàng trai nghèo sống bằng nghề đốn củi, chàng có tên là Cốc. Bởi vì quá nghèo nên chàng Cốc không thể lấy được vợ. Mỗi lúc buồn, chàng chỉ còn biết gửi nỗi lòng vào tiếng sáo. Một năm mất mùa, chàng Cốc đến nhà quan lang ở vùng gần sông Công, sông Gâm làm thuê. Quan lang này có một cô con gái xinh đẹp và hát hay, múa giỏi nức tiếng khắp vùng, đó là nàng Công. Nhiều người đến ướm hỏi nhưng nàng Công không ưng một ai. Duyên trời định đoạt, tiếng sáo chàng Cốc đã khiến trái tim người con gái rung động.

Biết chuyện, quan lang vô cùng tức giận. Ông bắt chàng Cốc làm những việc khó khăn, nguy hiểm cốt để hại chàng. Với sự giúp đỡ của tiên ông và các loại thú rừng, chàng Cốc đã hoàn thành tất cả yêu cầu. Song điều đó không làm quan lang hài lòng, ông bắt nhốt nàng Công trong nhà và cho quân truy đuổi chàng Cốc. Phần chàng Cốc, chàng về quê chờ ngày gặp lại người yêu. Chàng chờ mãi, chờ đến khi cả tấm thân hóa thành quả núi mà nàng Công vẫn chưa đến. Thương nhớ chàng Cốc, nàng Công khóc ròng rã, rồi thân thể nàng cũng tan ra thành nước.

Ngọn núi Cốc bây giờ là hiện thân của chàng trai năm xưa, còn người yêu chàng đã hóa thân thành dòng sông Công êm dịu. Người ta bảo, mỗi lần lũ lên là mỗi lần nàng Công cố vươn mình để được gần chàng Cốc hơn.

Câu chuyện về đôi trai gái hóa sông hóa núi đâu phải là câu chuyện duy nhất trên vùng đất này, bạn sẽ được nghe nhiều câu chuyện tình nữa như chuyện tình Ba cây Thông…

Xưa có hai anh em sinh đôi giống nhau như hai giọt nước, cả hai chàng cùng tài giỏi và vô cùng hiếu thuận. Một ngày nọ, người anh xuống núi, chàng gặp cô gái xinh đẹp nhất vùng và tình yêu bắt đầu nảy nở trong mỗi người. Ngày hôm sau, khi cô gái đang mong chờ chàng trai hôm qua tới thì cũng là lúc người em xuống núi và cũng gặp nàng. Người em cũng say đắm trước dung nhan của cô gái kia. Còn cô gái, cô đâu ngờ người đang đứng trước mặt mình là một người khác.

Tới một ngày, người anh hẹn cô gái về ngày đính ước, cô gái thẹn thùng ưng thuận. Ngày hôm sau, cũng như anh mình, người em xuống núi xin lời đính ước. Xúc động nghĩ rằng chàng trai đang nhắc lại lời hẹn, cô gái khẽ gật đầu. Dulichgo

Ngày hẹn ước cùng tới, dưới ánh trăng vằng vặc, ba người ngỡ ngàng nhìn nhau. Cô gái òa khóc trước sự sững sờ của hai anh em. Động lòng thương cảm, Ngọc Hoàng ban phép cho họ được mãi mãi bên nhau. Ngày hôm sau, tại nơi ba người đứng đêm qua, người ta bỗng thấy có ba cây thông cao lớn, xanh tốt đứng sừng sững giữa trời.

Để khi nghe xong hai câu chuyện trong hàng chục câu chuyện nơi đây. Chúng tôi chỉ ngồi im nhìn xuống mặt hồ phẳng lặng. Dường như tâm của mỗi người đều đã tĩnh lại được phần nào. Để rồi mai đây, lại trở về với những ồn ào phố thị, trở về với guồng quay công việc mệt nhọc mà còn vang mãi bên tai những câu chuyện tình đã trở thành huyền thoại – huyền thoại nơi núi sông chan hòa có cái tên của chàng trai dũng cảm si tình – Núi Cốc…

Lộ trình:

Ngày 1: Hà Nội – Thái Nguyên – Hồ Núi Cốc
Ngày 2: Hồ Núi Cốc – Thái Nguyên – Hà Nội
Nếu như bạn còn muốn lang thang, có thể tìm về chiến khu ATK xưa, tại huyện Định Hóa – Thái nguyên để thăm lại an toàn khu kháng chiến.

Điểm tham quan chính tại Hồ Núi Cốc:

+ Du thuyền trên hồ.
+ Thăm các hòn đảo như đảo khỉ, đảo dừa, đảo chim, đảo cò…
+ Tham quan ngôi nhà cổ và các hiện vật làng nghề truyền thống.
+ Vào ngôi chùa Thác Vàng nằm trong tượng phật Thích Ca Mâu Ni rỗng cao đến 45m.
+ Ngồi trên thuyền phao nhỏ, trôi theo dòng nước tượng trưng cho nước mắt nàng Công để xem và nghe câu chuyện Cốc – Công trong cung Huyền Thoại.
+ Động ba cây thông, động thế giới cổ tích, công viên nước.
+ Các tiết mục biểu diễn nhạc nước ngoài trời.

Theo Ovuong (Autocar VN)
Du lịch, GO!
Bảy hồ và ba thác nước tuyệt đẹp ở khu du lịch sinh thái Măng Đen (H.Kon Plông, Kon Tum) được người Mơ Nâm địa phương lý giải bằng câu chuyện đắm màu huyền thoại. Già làng A Đồ Ren ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông) kể, người Mơ Nâm gọi Măng Đen là T'măng Deeng, nghĩa là đất bằng (rộng lớn). Dulichgo

Yang Plinh nổi giận

Trong truyền thuyết “Bảy hồ và ba thác”, ngày xưa Măng Đen là vùng bằng phẳng, đẹp lạ lùng với rừng thiêng xanh mênh mông trải dài như dải lụa. Dù đẹp vậy nhưng Măng Đen lại không có người và loài vật sinh sống.

Một hôm, Yang Plinh (tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế) từ trên trời nhìn xuống Măng Đen cảm thấy buồn bã, bèn gọi 7 người con trai đến, gồm: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Lung, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng và em út là Gu Kăng Pô. Yang Plinh phán: Các con hãy xuống Măng Đen lập làng. Mỗi người được phong thần cai quản một vùng đất, gọi là Huynh.

Xuống lập làng, 7 người con của Yang Plinh lấy vợ, nhưng các bà vợ phải biến thành loài vật. Vợ của Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu Huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng biến thành nai thần gọi là Zoi Huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá thần gọi là Ca Huynh và vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn thần gọi là Pô Huynh. Các bà vợ có trách nhiệm cai quản những con vật cùng loài với mình. “Các ngươi suốt đời không được ăn thịt các loài do vợ mình biến thành. Nếu phạm lỗi thì sẽ bị trừng phạt”, Yang Plinh căn dặn các con. Dulichgo

Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, các vị thần lại dạy cho con cháu dựng nhà, làm rẫy, săn thú, dệt vải, đan lát, hát ca, đánh cồng chiêng…, 7 làng của 7 anh em ở Măng Đen ngày càng sung túc. Mỗi năm, những người con của Yang Plinh về báo cáo với cha mình về công cuộc chăn dắt loài người ở Măng Đen. Sau này, cuộc sống ở trần gian say mê hấp dẫn, người làng ngày càng đông đúc nên các thần phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa. Dulichgo

Tuy vậy, mỗi năm khi lúa đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy trên chạn bếp, con trâu, con bò, con dê thả trong rừng béo mập là lúc 7 vị thần dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (gọi là ăn trâu mừng năm mới). Những lần cúng Yeeng, người dân mặc đồ đẹp nhất, uống rượu và ăn những món ngon nhất, ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác. Trong những lần cúng Yeeng, nhất thiết phải có cây nêu vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên cùng là hình mặt trời. Thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh báo cáo với Yang Plinh về cuộc sống ở trần gian.

Trong các lễ hội này, các vị thần cũng vui chơi nhảy múa, ăn uống với dân làng. Thế rồi có một lần, do vui chơi, ăn uống cả tuần, những người con Yang Plinh quên mất lời cha dặn, ăn cả thịt cùng loài với vợ mình biến ra, chỉ có người em út là Gu Kăng Pô ở làng Huynh Pô là còn nhớ lời cha không ăn thằn lằn. Từ trên trời nhìn xuống, Yang Plinh nổi giận, dùng lửa trừng trị 6 đứa con trai lớn. Giữa lễ hội đông vui, giông tố nổi lên đùng đùng, 6 cột lửa trên trời đánh xuống 6 làng của 6 người anh, lửa phụt lên mù mịt, đất đá biến thành nước chảy tràn khắp vùng, nhà cửa tài sản, con người cũng như các Huynh đều bị nhấn chìm trong biển lửa. Dulichgo

Người em út làng Huynh Pô, dù không ăn thằn lằn nhưng biết mà không nhắc nhở các anh mình cũng bị trừng trị bằng một cột lửa. Nhưng Yang Plinh cho lựa chọn một là dân làng phải chết hoặc Gu Kăng Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Gu Kăng Pô tự nhận cái chết về mình và xin mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ. Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hồ lớn. Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ. Trong khi Yang PLinh trừng phạt những đứa con trai, có ba cột lửa bắn lên và biến thành ba thác nước ở Măng Đen bây giờ. 

Vùng đất của núi lửa

Theo già làng A Roi ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông), truyền thuyết “bảy hồ, ba thác” xuất hiện từ bao giờ không ai rõ. Tuy nhiên, không chỉ có chuyện kể ở trên mà còn có một số dị bản lưu truyền qua lời kể của người Mơ Nâm ở vùng Măng Đen. Theo ý kiến một số người, có thể vùng đất này ngày xưa có núi lửa, vì theo truyền thuyết lửa đã biến vùng này thành 7 cái hồ lớn nhỏ, đồng thời đất ở đây là đất bazan, phù hợp trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cà phê, khác với H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kon Rẫy (Kon Tum) sát bên chỉ có đất thịt pha cát, hoặc tỷ lệ đất bazan trong đất rất ít. Dulichgo

Theo Sở VH-TT-DL tỉnh Kon Tum, các hồ ở Măng Đen hiện lớn nhất là 3 ha, nhỏ nhất 0,5 ha. Đó là các hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô. Theo tiếng Mơ Nâm, Toong có nghĩa là “nước”. Tuy nhiên, những truyền thuyết về các hồ này đang dần mai một nên cần phải viết thành sách dạy lại cho học sinh ở địa phương.

Theo Phạm Anh (Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Bon Phi Mur, xã Quảng Khê (Đắk Glong) có một cái hồ khá đẹp. Đồng bào người Mạ ở Quảng Khê gọi hồ này với cái tên Nau kon đơi, dịch ra tiếng phổ thông nghĩa là Mồ côi.

Truyền thuyết kể rằng: hai anh em nhà nọ mồ côi cha mẹ nên ở với bà ngoại đã già yếu. Chúng rất ham chơi cù. Nhiều lần vì mải chơi cù mà chúng quên mất rằng bà ngoại luôn phải chật vật làm lụng và lo lắng cho bữa ăn hàng ngày. Bà ngoại thì nghĩ chỉ vì cái cù mà các cháu ham chơi. Một ngày kia, bà gọi hai cháu đến và bảo: “Bà mệt và rất thèm ăn xoài. Các cháu ra cây xoài mốc bên suối Play Lắt hái cho bà mấy trái”. Hai cháu đi rồi, bà ngoại liền lấy cái cù mà chúng thường đem giấu vào ổ trứng gà đang ấp...

Khi hái được xoài về nhà, tìm mãi không thấy cái cù để chơi, hai đứa nhỏ tức giận bỏ ra suối Play Lắt. Chúng hậm hực, dậm chân thình thịch xuống đất. Đất lún xuống và nước dần dần dâng lên rồi làm chìm cả hai anh em.

Chờ lâu không thấy hai cháu về, bà ngoại đi tìm. Khi đến nơi thì hai người cháu đã chết trong cái hồ mới hình thành. Buồn thương con trẻ, bà ngồi mãi bên hồ than khóc và hóa thành một mỏm đá ở đó. Dulichgo

Hiện nay, hồ Nau kon đơi đã được Nhà nước đầu tư kinh phí để nâng cấp thành hồ chứa có dung tích lớn, đủ nước phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu của 180 ha cây trồng, tạo nhiều thuận lợi cho đời sống của đồng bào người Mạ ở địa phương này.

Theo Vũ Ngọc Tú (báo Đắk Nông)
Du lịch, GO!
Đầm Trà Ổ là đầm nước ngọt lớn của huyện Phù Mỹ và tỉnh Bình Định, còn có tên gọi là Đầm Châu Trúc vì phía bắc của Đầm có hai thôn Châu Giang và Trúc Võng. Trước đây đầm nối với biển bằng cửa Hà Ra nhưng hiện nay cửa này chỉ thông biển vào mùa mưa còn mùa khô thì bị bồi lấp.

Mặt nước mênh mông của đầm giáp với các xã: Mỹ Thắng, Mỹ Châu, Mỹ Lợi và Mỹ Đức. Đầm Trà Ổ không chỉ đẹp mà nơi đây còn là môi trường sinh sống của nhiều loài thủy sản mang lại nguồn sống đáng kể cho người dân ven đầm và khi nói đến các loài thủy sản quý, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao trong Đầm Trà Ổ không thể không nhắc đến con tôm đất bé nhỏ, căng tròn, tươi xanh...

< Để bắt con tôm dưới đầm nước mênh mông, bên cạnh chiếc xuồng làm bằng tôn, hoặc sõng nan người bắt tôm phải có 'dẹp' tôm (rọ).

Con tôm trong đầm Trà Ổ làm ngọt ngào tô bún tôm, dẫu ai đó dù chỉ một lần thưởng thức cũng khó quên hương vị đặc trưng món bún tôm Châu Trúc nói riêng và Phù Mỹ nói chung. Tuy nhiên, nếu có dịp về Phù Mỹ, du khách có thể xem cách bắt tôm của người dân nơi đây cũng không kém phần thú vị như tô bún tôm Châu Trúc nổi tiếng… Dulichgo

< 'Dẹp' được bà con tự đan để dùng, vật liệu chủ yếu nan tre, đan dày, có hình tròn chiều dài thường 4 tấc (40 cm), đường kính 1,5 tấc, toi nhỏ ở 1 đầu. Hầu hết bà con thôn Châu Trúc (xã Mỹ Châu) đan dẹp để thả, còn thừa đem bán, bình quân 4.000đồng/dẹp.

Theo bà con quanh đầm, kể cả mùa nước cạn đến mùa nước lũ, thả dẹp đều có tôm, nhưng từ tháng 3 đến tháng 8 ÂL hàng năm, mùa nước cạn sản lượng tôm đạt cao, bình quân thả mỗi đêm thả 1.000 - 1.500 dẹp, bắt được 3 - 5kg tôm; còn mùa nước nổi thì ít hơn…

< Tuy nhiên để tôm vào dẹp phải dùng mồi. Mồi bỏ vào rọ để nhử tôm được chế biến bằng cám heo và cua (bắt ngay trên đầm) giã nhuyễn, bóp thành viên dài (gần bằng ngón tay cái), đem nướng cho sém khô, tỏa hương thơm.

Hiện nay, lượng tôm có giảm, nên giá tăng cao, bình quân  100.000đồng/kg, người bắt tôm có thể kiếm cả trăm ngàn đồng mỗi ngày. Dulichgo

< Nhiều hộ dân quanh đầm chuyên nghề bắt tôm thả cả ngàn rọ tôm. Một hàng dây dừa giăng thả cả trăm chiếc rọ tôm có phao nổi để biết. Hai đầu dây được cột vào hai trụ cây hay hai hòn đá nặng thả xuống nước. Bỏ mồi xong, rọ được cột trên dây dừa, thả treo lưng chừng mực nước.

Những mùa tôm Đầm Trà Ổ đã góp phần cho bà con có nhà xây, xe máy, điện thắp sáng, tiền cho con ăn học và cả thú vui tao nhã cùng ông mặt trời mỗi sớm tinh sương thức dậy hối hả ra đầm giở dẹp, bắt tôm...
Và cũng nhờ nghề này mà ở Phù Mỹ có món bún tôm Trà Ổ (Châu Trúc) nổi tiếng.

< Mỗi đêm chỉ thả rọ tôm 1 lần, đến sáng tinh sương những đàn ghe hối hả ra đầm kéo dẹp, trút tôm. Trút xong, lại bỏ mồi, lại thả, sáng hôm sau ra trút tiếp. Và cứ vậy, có nước, có thả dẹp, nhất định ít nhiều sẽ có tôm.

Nét đặc trưng của bún tôm Trà Ổ, trước hết là ở cách làm bún. Bún không phải làm sẵn bán ở chợ, hay được mua ở các lò bún nổi tiếng. Người bán bún tôm chế biến sợi bún ngay tại chỗ. Khi có khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã xay sẵn, xong hấp trong nồi nước đang sôi. Sợi bún rất nhỏ, mềm và trắng muốt. Tôm dùng làm bún là những con tôm sinh sản tự nhiên, còn sống, được đánh bắt từ đầm Trà Ổ. Dulichgo

< Hơn 300 hộ quanh đầm sống nhờ vào con tôm tươi hấn, bụ bẩm, săn chắc và ngọt thịt, với sản lượng không ít, khi vừa mới lên bờ đã có đại lý thu mua.

Tô bún tôm Trà Ổ có hương vị rất đặc biệt. Đầu tiên, người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, nhúng qua vào nồi nước đang sôi rồi cho bún vào tô, chế nước xáo bún vào, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi, tỏa hương thơm rất hấp dẫn.

Thường thì bún tôm được ăn kèm với bánh tráng gạo nướng. Nhiều người mới ăn lần đầu chưa thấy thích, nhưng ăn nhiều lần thì nghiện lúc nào không hay. Nghiện vì chất ngọt của nước xáo bún, của mùi hành hương thơm ngát và nghiện luôn cả cái giá rất bình dân.

Đầm Trà Ổ cũng là nơi tổ chức hội đua thuyền truyền thống hàng năm vào dịp xuân về. Đây là giải đấu thường niên và cũng là giải đua lớn nhất Bình Định. Thông thường thì với giải nam, các đội phải trải qua 5 vòng 10 dạo (tổng cộng khoảng 10 km). Về đội nữ với sức lực yếu hơn nên chỉ phải thi đấu 4 vòng 8 dạo (tổng cộng 8 km). Sau hiệu lệnh xuất phát của ban tổ chức, những tiếng hò reo cổ vũ của khán giả vang lên, đầm Trà Ổ bắt đầu dậy sóng.

Du lịch, GO! tổng hợp từ báo Bình Định và nhiều nguồn khác.
(BNA) - Ai chưa một lần đến lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, hẳn không tránh được mường tượng về sự nguy hiểm khi đặt chân lên những chiếc thuyền nhỏ bé giữa mênh mông mặt nước sâu hàng trăm mét. Thế nhưng, mường tượng ấy dường như dần tan đi khi đối diện với mặt hồ phẳng lặng, bình yên, với những tay lái thuyền cự phách, giàu kinh nghiệm…

Về nghề lái thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, cô bạn đồng nghiệp dành hẳn vài trang nhật ký hành trình cho những người cầm lái thiện nghệ này. “Ngày 1/1/2015: Ngày đầu tiên của năm mới, chúng mình đang có mặt tại bến thượng lưu của lòng hồ. Nghe bảo hồ rộng tới gần 5.000 ha, mênh mông nhưng không có cảm giác sợ hãi rợn ngợp bởi mặt nước rất êm, không gợn sóng. Nhiệm vụ quan trọng phải làm ngay là chia nhau ra, tìm một người lái thuyền thật giỏi và tính cách dễ chịu để làm hoa tiêu cho chuyến đi dài ngày này…”.

Nhiệm vụ tối quan trọng mà cô bạn phải kỳ công nhấn mạnh ấy quả không dễ dàng thực hiện. Đoàn 4 người, tỏa ra khắp hướng, dò dẫm đủ các quán nước trên bến thượng lưu và hỏi vân vi đến cả đội xe thồ, xe khách đứng tản mát trên vệ đường. Xin thưa ngay, phải tốn thời gian và công sức thế, không phải vì người lái thuyền trên mặt hồ lặng sóng này hiếm có, khó tìm. Mà bởi lẽ, người làm nghề vô thiên lủng, nhưng cái tiêu chí kén chọn phải vừa “thật giỏi và tính cách dễ chịu” chúng tôi đặt ra thì quả cũng có phần “cao giá”, nhất là trong thời điểm nghỉ lễ tết dương, nhu cầu giao thông, giao thương qua lòng hồ tăng cao. Những chiếc thuyền ba lá đậu kín bến, chủ thuyền tất bật buộc neo, giăng bạt, đổ xăng… còn khách hàng đủ thành phần, lứa tuổi, trang phục, lỉnh kỉnh đồ đạc, hàng hóa đứng chờ thuyền đủ khách cho một lần xuất bến. Loáng thoáng tiếng hỏi giá thuyền: “Chuyến về Hữu Khuông bao nhiêu một người?  50 nghìn nhé!”. Thuyền mùa cao điểm chẳng hiếm khách, thế nên phải vòng đi vòng lại, chúng tôi mới tìm được một chủ thuyền mặn chuyện chịu sẻ chia chút chuyện nghề.

Bộ đồ đi mưa xanh Cửu Long bết đầy bụi và bùn đất, sột soạt ôm lấy dáng người nhỏ thó, nước da đen sắt và khuôn mặt sùm sụp chiếc mũ lưỡi trai sờn rách, ông Vi Viết Tiến- người lái thuyền mà chúng tôi mừng húm “túm” được khi ông đang sòng sọc cữ thuốc lào đầu ngày. Anh bạn trẻ đồng nghiệp khéo đẩy đưa câu chuyện chung về “tình yêu thuốc lào”, rồi rẽ ngoặt về cái nghề lái thuyền trên lòng hồ, cái mẹo giao tiếp ấy thế mà được việc ra trò! Mắt lim dim dõi ra phía lòng hồ đang ánh lên những tia nắng ban mai, ông bảo, gắn với nghề này đã ngót chục năm ròng, từ khi dòng Nậm Nơn chưa được ngăn dòng cho đến hôm nay là lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ.

Cũng như nhiều gia đình khác, trước, gia đình ông thuộc xã Hữu Dương, nhưng khi có chủ trương di cư nhường chỗ cho lòng hồ thủy điện, cả gia đình chuyển về tái định cư ở bản Đại Sơn, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương. Di cư theo chủ trương của nhà nước, cho dòng điện lưới quê hương, nhưng khi về nơi ở mới, gia đình ông phải đối mặt với nhiều khó khăn. Vợ con nheo nhóc lại chưa có đất sản xuất, cuộc sống phần lớn phải phụ thuộc vào hỗ trợ gạo hàng năm. Năm 2011, mấy người bạn nghề rủ rê, đã gắn với nghề sông nước thì phải chịu thương, chịu khó, lại về với cái nghiệp lênh đênh đi thôi! Đến giờ, ông vẫn thầm cảm ơn cái sự rủ rê lẫn động viên ấy, bởi nghề lái thuyền mấy năm nay đã mang lại cho gia đình ông nguồn thu nhập khá ổn định, dẫu không lấy gì làm khá giả, nhưng chí ít cũng thoát cảnh phụ thuộc vào trợ cấp nhà nước.

Chỉ tay vào chiếc thuyền gỗ đậu mép lòng hồ, ông bảo, thuyền được đóng bằng tiền đền bù giải phóng mặt bằng mấy năm trước. Gỗ đóng thuyền là do tự tay ông tìm mua, rồi cất công lên tận xã Mỹ Lý (Kỳ Sơn) thuê thợ mát tay đóng thuyền, lại hỏi han mua máy gắn thuyền hết tất tật 50 triệu đồng. Vợ con đã ổn định tại nơi ở mới, ông một mình vào lòng hồ sinh sống, không nhà cửa, ông dựng cái lán tạm lênh đênh bên mép nước trên địa bàn xã Nhôn Mai làm nơi trú ngụ khi đêm xuống. Hàng ngày, công việc của ông là chở khách từ bến Nhôn Mai ra bến thượng lưu và ngược lại.

Con thuyền bằng gỗ de của ông dài hơn 11 m, khoang rộng gần 1,5 m, mỗi chuyến được phép chở 6 – 7 người. Từ Nhôn Mai ra bến thượng lưu, thời gian chạy thuyền ngót 2 giờ đồng hồ, ông Tiến thu mỗi khách 70 nghìn đồng. Nếu đủ khách, mỗi chuyến trừ chi phí tiền đổ xăng, còn lãi tầm 300 nghìn đồng. Tuy nhiên, không phải ngày nào cũng được như vậy. “Trúng dịp lễ, tết hoặc ngày nghỉ cuối tuần, học sinh, sinh viên với cán bộ công chức mới ra vào nhiều, ngày thường cũng vắng lắm.” – ông Vi Viết Tiến trần tình. Chúng tôi đặt vấn đề mời ông cùng “làm” một chuyến lênh đênh hẳn hoi, du ngoạn đến tận cùng dài rộng lòng hồ cho thỏa thú vẫy vùng năm mới. Tiếc thay, chuyến đi dài ngày quá, và ông thì còn chút việc gia đình cần về gấp nay mai.

Nhật ký hành trình của cô bạn đồng nghiệp hẳn sẽ dài thêm với những dòng lâm ly cảm thán, nếu sáng ngày hôm đó, chúng tôi không gặp may mắn tìm được một “tay” lái thuyền trẻ tuổi. Lương Văn Tửm, 22 tuổi đã đề huề vợ con. “Người vùng cao thường lấy vợ sớm mà. Không đi học xa, không làm cán bộ thì lấy vợ thôi!”- Tửm thật bụng trả lời thắc mắc của chúng tôi. Cái tên Tửm của chàng ta nghe cũng khá lạ lùng, anh bạn đồng nghiệp là đồng bào dân tộc Thái cắt nghĩa: Tửm có nghĩa là thêm, là đầy đặn. Ra vậy, Lương Văn Tửm là con út trong gia đình, cái tên ấy là sự thêm vào cho tròn đầy, ấm cúng. Nhìn dáng vẻ bên ngoài, tưởng như không có cái tên nào hợp với Tửm hơn được nữa. Tửm vóc người mập mạp nếu không muốn nói là tròn ú, mái tóc đen bóng và xoăn tít. Lối chuyện trò của cậu chàng toát vẻ chất phác và gọn gàng. Chuyện sông nước mênh mông tưởng như không thấy đường chân trời mà tay lái trẻ này kể cứ gọn ơ như không! “Lớp 9 đã cầm lái rồi mà, không sợ gì hết. Mà hồi đó là sông Nậm Nơn lắm thác, lắm ghềnh, chứ không phải là mặt hồ phẳng lặng thế này đâu.”- Tửm nói nhát một.

Và Tửm nói thật. Gần tuần lễ lênh đênh lòng hồ, chiếc thuyền ba lá gắn động cơ 13 mã lực trong tay Tửm như một chú ngựa ngoan hiền dễ bảo. Tửm ngồi đằng chân thuyền, mem mép ghé bàn tọa lên thanh gỗ nhỏ, một tay cầm chắc tay lái định hướng. Gió hun hút thổi, động cơ phành phạch khua mặt hồ bình lặng thức dậy những đợt sóng xôn xao, lúc nhanh, lúc chậm, lúc rẽ ngang, lúc dừng lại theo yêu cầu của đoàn khách khó tính đang săn tìm những “đúp”, những cảnh đẹp kỳ vĩ lòng hồ. Bình thường phải “tội” ít chuyện, còn thì nếu khéo hỏi, Tửm thoắt trở thành hướng dẫn viên du lịch chẳng kém cạnh ai, với lối giới thiệu địa danh chính xác, bổ sung cả những truyền thuyết bí hiểm của đồng bào.

Nào đây là bản Xốp Lằm, Chà Coong, Nhạn Ninh, Nhạn Pá…; nào thì hang Thằm Nặm… Lương Văn Tửm chia sẻ những kỷ niệm không thể quên của nghề lái thuyền trên dòng Nậm Nơn ngày nào, với những dốc thác cuồn cuộn, những ghềnh lên gấp xuống mà dẫu tay lái thiện nghệ mấy cũng dễ phải run tay. Cậu chàng bảo, nghề nào cũng phải thuộc mẹo luật, mà mỗi người lái có cho riêng mình một kinh nghiệm khác nhau. Lái thuyền 24 mã lực khác thuyền 13 mã lực, lúc cần chèo tay, lúc cần nghiêng lái… Giờ, lái thuyền trên lòng hồ Bản Vẽ đã không còn hiểm nguy như trên dòng sông Nậm Nơn nữa, thay vào đó là cảm giác bồng bềnh, êm ả, tha hồ thả hồn chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ, kì bí về một nền văn hóa sông nước.

Chiếc thuyền ba lá bé nhỏ trên mênh mông lòng sông, ngút ngát tầm mắt là miên man hoa dại nở bung trắng xóa, thi thoảng qua những khúc rẽ bình lặng, nhìn xuống mặt hồ trong xanh còn thấy cả đàn cá mương tí tách nhảy reo. Chuyến hành trình lòng hồ mở ra những điều thú vị, chúng tôi không hề cảm thấy đơn độc bởi liên tục gặp những chiếc thuyền bạn rẽ sóng gần bên. Nhớ cái thống kê của Phòng Công thương huyện Tương Dương, rằng hiện nay trong lòng hồ Bản Vẽ có gần 70 chiếc thuyền chở khách và khoảng 60 chiếc thuyền dân sinh.

Toàn bộ số thuyền này do người dân tự đóng lấy, tuy nhiên sự an toàn tương đối cao. Hầu như những người làm nghề lái thuyền ở đây là người địa phương, đã từng có kinh nghiệm lái thuyền trên sông Nậm Nơn trước đây và phần lớn đã được cơ quan chức năng cấp chứng chỉ lái thuyền, thuyền nào cũng được cấp phát áo phao cứu sinh đầy đủ. Trước đây, mỗi khi cán bộ huyện vào công tác xã Mai Sơn phải mất đến 1 ngày đường ngồi thuyền trên dòng Nậm Nơn lên thác, xuống ghềnh ẩn chứa nhiều nguy hiểm, thì nay, xuất phát từ bến thượng lưu đến Mai Sơn chỉ mất nhõn 3 tiếng đồng hồ êm ái trên thuyền. Di chuyển bằng thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ được nhiều người đánh giá là an toàn, bởi lẽ từ ngày hồ thủy điện tích nước đến nay đã 4 năm, chưa xẩy ra vụ tai nạn đường thủy nào trên lòng hồ…

Mặt nước, đồi núi và những con thuyền chở khách lướt nhẹ trên mặt hồ hòa quyện, hiện ra dưới cái nắng ban mai, tạo cảm giác không khí mát lạnh về mùa hè, rét tê buốt vào mùa đông lấp đầy cơ thể. Một không gian rộng lớn, mờ ảo trong sương mờ khiến cho ta nhỏ bé trước “biển hồ” như kiệt tác thắng cảnh do con người tạo ra trên miền Tây hoang sơ này. Dưới đôi tay thiện nghệ của lái thuyền Lương Văn Tửm, nhiều cảnh đẹp thiên nhiên và bao sự bình dị, lầm lũi cũng như khát vọng của cuộc sống con người lòng hồ dần hiện ra, “hút” đoàn chúng tôi đắm vào chuyến hành trình kỳ thú!

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2

Theo Hoàng - Chi (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!
(BNA) - Sau 4 năm đưa vào vận hành 2 tổ máy phát điện của Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, hồ tích nước trên thượng nguồn sông Nậm Nơn thuộc địa bàn huyện Tương Dương và Kỳ Sơn đã trở thành “biển hồ” rộng lớn phía miền Tây Nghệ An.

Bức tranh "sơn thủy hữu tình"

Vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ của mặt hồ, núi rừng ấy đã tạo nên bức tranh “sơn thủy hữu tình”. Xung quanh lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ rộng tới gần 5.000 ha mặt nước này bây giờ là nơi hội tụ nhiều yếu tố để con người khám phá. Nhóm phóng viên Báo Nghệ An đã có chuyến trải nghiệm thú vị trên lòng hồ vào dịp đầu năm mới này...

Một sáng đầu năm, chúng tôi đặt chân trên bến thượng lưu của lòng hồ Nhà máy thủy điện Bản Vẽ. Đã quen lắm với mùa đông miền sơn cước, nhưng cái rét tê buốt hôm nay vẫn không làm tan đi bao ngỡ ngàng vui khi những ánh nắng hiếm hoi dần xuất hiện. Nắng lấp lánh trên mặt hồ phẳng lặng, óng ánh phản chiếu những mảng mây trắng xóa đủ hình thù đang ôm lấy triền đồi nối dài. Cô bạn đi cùng reo lên: “Kỳ thú quá, hùng vĩ quá!”. Thì đã hẳn! Cô bạn là người phố, mà phố thì thường chỉ làm cho người ta choáng váng bởi những mảng màu, những hình khối bê tông độc lạnh; còn cái thứ cảm xúc khoáng đạt và tự do khó gọi tên này, chỉ có thể “gặp” và “chạm” được khi ở ngay đây, vùng núi nước trải dài chân trời này thôi.

Chúng tôi cuốc bộ vòng khắp bến. Nắng mùa đông xiên nghiêng hoe vàng mái tóc cô bạn đồng hành. Những cái lều bán hàng tạp hóa, quán phở tạm bợ, chật chội, dựng bên mép đường bê tông dẫn xuống bến, bắt đầu sửa soạn bàn ghế, hàng hóa để đón khách vào. Dòng người mỗi lúc một đông, gương mặt ai cũng toát lên vẻ sốt ruột, đợi chờ. “Chờ mần chi ở đây rứa mế ơi?”- giọng phố thị “học đòi” giọng núi, hỏi khẽ người già đứng cách đó một quãng. “Chờ thuyền vô bản thôi mà, còn đằng tê, họ chờ thuyền đón cá về.” Sự chờ đợi vẻ như đã thành điều quen thuộc. Lạo xạo không gian chỉ là tiếng chuyện trò rất bé, lẫn giữa bao tiếng động xe cộ đằng xa vọng về.

Tôi nhìn kỹ từng gương mặt xung quanh. Một người đàn ông gùi một gùi hàng nặng trĩu, lèn chặt nào là mì tôm, quần áo ấm, gói kẹo xanh đỏ, lưỡi dao mới sắc lẹm... Cạnh bên là người phụ nữ quàng dải vải đỏ địu con trước bụng, bé con có lẽ chỉ vài tháng tuổi, ngủ ngật ngưỡng trong lòng mẹ. Rồi những người già ở núi, da dẻ đã hằn lên muôn vàn nếp chân chim, vẫn đỏ au như lim, táu giữa rừng. Đông nhất vẫn là đội lái buôn. Sáng nào, họ cũng tập trung về đây để chờ thuyền đánh cá qua đêm. Đội này thì dễ nhận ra, bởi vẻ tất tả bàn tính, bởi những cuộc điện thoại nhí nhoắng...

Mải lan man nghĩ ngợi, bỗng bên tai ồ lên những tiếng reo mừng. Thuyền về! Tôi láo nháo hướng mắt tập trung về phía hồ. Ánh nắng ngược chói vào mắt, mặt hồ rẽ sóng xôn xao những đoàn thuyền nhỏ bé đang xuôi dần về phía bến. Bến thượng lưu chộn rộn hẳn lên! Thuyền cập bến rồi, cơ man ăm ắp cá mương, nhảy tí tách trong lòng thuyền. Chúng tôi háo hức chạy nhoắng lên bến, ngó nghiêng bên này một tí, bên kia một tí, tự “trẻ con hóa” mình một chút vì mấy khi trúng dịp mục sở thị sự ưu đãi của lòng hồ dành cho con người như thế. Mà chẳng phải chỉ chúng tôi, cả bến nhộn lên tiếng cười nói, dẫu có người chẳng phải bán buôn gì. Ồ thuyền bé mà trĩu đáy thủy sản. Có những thuyền may mắn đánh được cá rô phi to bằng 2 bàn tay, rồi cá trôi, trắm, chép... nặng tới 3 - 4 kg. Loáng thoáng tiếng trả giá sát sạt: “Trắm này lấy buôn 100 nghìn/ kg nhé!” Rồi bĩu môi “chê” đắt, rằng cá còm chẳng mấy giá... Cánh lái buôn với chủ thuyền cứ thế làm rộn rịp cả bến thượng lưu.

Vẻ bình lặng hơn sau những háo hức hiếu kỳ ban đầu, là những người dân bản địa tiến về phía các thuyền chở người. Ai đi đâu, về đâu, đều được chủ phương tiện đưa lên thuyền, mặc áo phao cẩn thận trước khi thuyền ngược lòng hồ. Mỗi chiếc thuyền cập bến là đồng bào các dân tộc kèm theo nhiều bao bì đựng lâm sản phụ từ núi rừng ra bán cho lái buôn. Có tiền, bà con bước lên những chiếc xe khách loại nhỏ, ra chợ Hòa Bình mua sắm đồ dùng. Chúng tôi tìm đến vợ chồng ông Toàn bà Hoàn, là người bản địa, chuyên buôn bán hàng hóa ở đây từ khi lòng hồ tích nước, bởi vậy, việc buôn bán ở bến này gần như hoàn toàn do vợ chồng bà làm chủ. Bà Hoàn vóc người thấp đậm, nước da trắng, luôn nở nụ cười tươi trên khuôn mặt phúc hậu và khá nhanh nhẹn trong việc buôn bán.

Trong cái quán nhỏ thưng bằng tấm liếp nứa của ông bà có nhiều lâm sản phụ chất đống sau những ngày thu mua của bà con. Bà Hoàn cởi mở: Mùa nào thứ ấy, nào hạt bo bo, nấm rừng (giống nấm linh chi), bông đót, măng khô... bà con hái từ rừng sâu về, vận chuyển ra đến đây, bà thu mua hết. Bao nhiêu vốn liếng, bà dồn vào đây để buôn bán kiếm lời, cũng là tạo điều kiện cho bà con vùng trong có nguồn thu nhập. Vợ chồng bà Hoàn còn có cái quán bán hàng tạp hóa trên xà lan, neo cố định dưới bến, làm nơi buôn bán trao đổi hàng hóa hàng ngày. Hàng hóa có nước giải khát, bánh kẹo, mì chính và một số hàng hóa khác... phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho đồng bào vùng trong. Nhiều chủ quán bán lẻ trong bản sâu, hàng ngày chạy thuyền ra mua sỉ của bà để kịp về phục vụ bà con.

Chúng tôi “nháy” nhau “đánh” một tô mì tôm trứng gà hôi hổi trước khi dấn bước vào hành trình lòng hồ kỳ bí. Ai đã nói “có thực mới vực được đạo”, quả đúng lắm! Nhất là cái hồ Thủy điện Bản Vẽ này, khi vừa trình bày dự định khám phá một “tour” thật hẳn hoi, các anh lãnh đạo huyện Tương Dương đã “bật mí” về cái sự lạnh giá và rất nhiều điều bí ẩn, ít người biết đến. Thông tin cơ bản thì ở đó, ngoài nhiệm vụ chính là cung cấp điện năng cho quốc gia với công suất 320 MW, mặt sông còn là tuyến giao thông đường thủy rất thuận lợi. Trước đây, khi chưa có công trình Thủy điện Bản Vẽ, giao thông đường thủy từ Thị trấn Hòa Bình vào Mai Sơn phải mất 12 giờ đồng hồ, vượt qua bao thác ghềnh, hõm xoáy nguy hiểm. Từ khi lòng hồ tích nước, từ bến thượng lưu đến xã Mai Sơn chỉ mất 5 tiếng đồng hồ, thuyền lướt băng băng trên mặt nước rộng phẳng lặng, an toàn. Ấy là chưa kể đến tiềm năng để phát triển kinh tế bằng nuôi cá lồng, chăn nuôi trang trại dọc hai bên lòng hồ...

Trên diện tích gần 5 nghìn ha mặt nước của lòng hồ, hiện nay đã có một số người dân được sự hỗ trợ của nhà nước, làm lồng nuôi thí điểm các loại cá đặc sản: cá lăng, cá bọp, cá chiên. Ngoài ra, hồ còn là nơi để cư dân hành nghề đánh bắt thủy sản bằng cách thả lưới, câu, cung cấp thực phẩm tươi sống, chất lượng cao cho người tiêu dùng trên địa bàn miền núi này. Hồ không có ốc đảo, nhưng hai bên lòng hồ đã có những người chọn được vị trí tự nhiên thuận lợi để đầu tư chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng kinh tế trang trại, ngoài mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, còn tạo điểm nhấn cho khách du lịch dừng chân tham quan.

Nhìn ra mặt hồ mênh mông, chúng tôi ánh lên niềm tin về tiềm năng dồi dào du lịch sinh thái, khi mênh mang dọc hai bên hồ là ngút ngát rừng nguyên sinh và những hang động, những mỏm đất nổi lên sau bao biến động tầng địa chấn... Đi thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ kì vĩ, ta được ngắm cảnh sông nước, mây trời, được dừng chân thưởng thức những món cá nướng được đánh bắt từ hồ, thơm lừng bên nếp nhà sàn của đồng bào Thái, Khơ mú. Trong suốt chiều dài của lòng hồ, chúng ta còn được dừng chân ở 8 bản là đồng bào Thái, Khơ mú, Mông của 4 xã: Lượng Minh, Nhôn Mai, Hữu Khuông và Mai Sơn. Ở đó, đồng bào các dân tộc còn lưu giữ nghề thủ công truyền thống đan lát, dệt vải... Đặc biệt, nếu ngược lên xã Mỹ Lý của huyện Kỳ Sơn, chúng ta sẽ bắt gặp nghề truyền thống đóng mới và sửa chữa thuyền 3 lá của đồng bào các dân tộc, là phương tiện chính dùng để vận tải hành khách trên lòng hồ từ trước đến nay.

Theo thống kê của Phòng Công thương huyện Tương Dương, hiện nay, trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, luôn có từ 60 - 70 chiếc thuyền 3 lá, gắn máy công suất từ 18 - 24 mã lực, làm nghề vận chuyển khách ngược xuôi. Những người làm nghề lái thuyền ở đây đều là người bản địa, hầu hết đã được cấp chứng chỉ lái thuyền, trên thuyền còn được trang bị áo phao cứu sinh. Chưa kể, trên hồ còn có khoảng 50 chiếc thuyền dân sinh, dùng để vận chuyển hàng hóa, đánh bắt cá. Dọc hai bên lòng hồ, ta còn được dừng chân ngắm nhiều vẻ đẹp hoang sơ, kì vĩ: hang Thằm Nặm, Thằm Kèo ở Hữu Khuông, hay đến bản Pủng, xã Nhôn Mai có thể khoát bàn tay xuống khe nước nóng.

Nếu có thời gian, khách du lịch có thể ở lại với đồng bào Thái, Khơ mú còn lưu giữ được các bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo ở Huồi Tố, xã Mai Sơn. Với những thế mạnh về cảnh quan, ẩm thực đó, năm 2011, UBND huyện Tương Dương đã lập Đề án bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, trong đó lấy lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ làm điểm nhấn...

Nghe vậy, càng làm chúng tôi thêm háo hức. Sau một đêm ngủ trên bến thượng lưu của lòng hồ, chúng tôi bắt đầu một cuộc hành trình dài ngày trên chiếc thuyền 3 lá, rẽ sóng đến với những điều kì bí, hoang sơ và cộng đồng các dân tộc để khám phá, mang đến cho bạn đọc một góc nhìn mới, sinh động trong lòng “biển hồ” này.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2

Theo Hoàng - Chi (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!
(BCT) - Gió bấc liu riu thổi là lúc chúng tôi đến Nhơn Hội, An Phú, An Giang, "trụ" tại nhà ông Mach-ly, để hòa cùng cuộc sống đồng bào Chăm nơi đây. Ông Mach-ly cho biết đang "mùa cá ra". Mùa cá ra là lúc nước trên các cánh đồng đầu nguồn sông Hậu (An Giang) rút xuống các kinh rạch, và cá từ trên đồng (cá linh non và các loại cá khác lên đồng sinh sôi nảy nở, sau vài tháng thành cá già) theo đó ra sông, tiếp tục cuộc hành trình tìm về thượng nguồn.

Nói rồi, ông đưa chúng tôi ra một vàm rạch ở Khánh An (An Phú) chứng kiến những hình ảnh thanh bình mà bất cứ du khách nào cũng thích thú trải nghiệm. Nơi này giăng lưới, chỗ kia vãi chài, nơi nọ thả đăng, kẻ chèo xuồng, người vọt vỏ lãi… Nhộn nhịp nhất là khi họ dỡ ngư cụ lên, khuôn mặt rạng rỡ nhìn những con cá quẫy mình tìm đường thoát. Cá linh, cá mè, cá bống tượng, cá hô đất, cá leo, cá lăng… Kẻ mua người bán rộn ràng như ngày hội.

Ông Mach-ly cho biết năm nay nước nhỏ (nước lũ về ít) cá không bao nhiêu, bán ký. Ngày xưa, người ta bán cá bằng giạ, bằng thúng, ăn không hết xẻ khô, làm mắm, nấu nước mắm. Ông cho biết, mùa cá ra kéo dài cả tháng, nhưng rộ nhất vào hai con nước kém là mùng 10 và 25 tháng 10 âm lịch. Hòa tấu khúc sông nước nầy kéo dài từ lúc trời chưa đâm mây ngang đến tận lúc mặt trời sụp bóng.

Ông Mach-ly đưa chúng tôi ra bến nước trước Thánh đường Nhơn Hội (Mas Jid Khoy Ri Yah), nơi có một chiếc ghe máy đang đậu. Đó là loại ghe lạ mắt, mũi cong, khắc sơn hoa văn khá sặc sỡ theo phong cách người Chăm. Bà Sari-pháp, chủ ghe cho biết ghe chở được trên 10 người, chạy vòng quanh Búng Bình Thiên khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ, giá 300.000 đồng.

Đây là nghề mưu sinh của bà cùng cậu con trai nhỏ. Chồng và các con lớn của bà đang ra đầu vàm, ngã ba, ngã tư, sông rạch để săn bắt cá mưu sinh. Mùa cá ra thu hoạch gấp nhiều lần những tháng khác trong năm. Riêng bà sức yếu nên chọn nghề chạy ghe máy đưa khách du lịch tham quan búng.

Với tiếng Việt lớ lớ, Mach-ly kể: Búng Bình Thiên là một hồ nước thiên nhiên có từ mấy trăm năm, thuộc 3 xã: Nhơn Hội, Quốc Thái và Khánh Bình. Tên gọi có nghĩa "hồ nước trời", nhằm diễn tả sự mênh mông như trời đất của nó. Vào mùa khô, búng rộng trên 200ha, còn mùa nước nổi thì mặt hồ mở rộng thêm 100ha, sâu khoảng 4m. Người dân địa phương thường gọi Búng Lớn - một hồ nước ngọt lớn nhất miền Tây, dấu tích còn lại của thời xa xưa, khi nơi nầy còn là hoang địa với ao đầm giăng khắp.

Theo truyền thuyết, mùa khô hạn cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh dẫn quân đến. Không có nước ngọt, ông dâng lễ vật cúng tế rồi đâm gươm xuống đất, một dòng nước trào lên, đọng thành hồ nước trong vắt. Hồ ngày một phát triển rộng lớn thành búng như ngày nay. Điểm đặc biệt của Búng Bình Thiên là bất cứ lúc nào, nước trong búng cũng trong xanh, chỉ dâng cao rồi hạ xuống. Từ năm 2012, Quốc khánh 2-9 năm nào chính quyền địa phương cũng thả cá trong búng nhằm bảo tồn, phát triển loài thủy sản. Ghe chầm chậm chạy quanh hồ, vượt qua những nhà bè nuôi cá rô phi bập bềnh sóng nước. Ghe chui qua cầu C3 trên sông Bình Di, đầu ra của búng. Trước mắt chúng tôi hiện tượng lạ kỳ: nước bên đục bên trong. Dulichgo

Rời búng, dài theo đường trải nhựa, mùi nước mắm cá linh nấu tỏa thơm quyến rũ trong đêm dần buông xuống. Cây cối hai bên đường, trong vườn với những căn nhà kiến trúc theo kiểu đồng bào Chăm ẩn hiện. Bước từng bước lên cầu thang gỗ khá cao, chúng tôi lên căn nhà sàn của ông Mach-ly. Sàn nhà láng bóng, đã bày sẵn bữa cơm tối trên tấm vải nhựa lớn. Ê hề những thức ăn đang chờ chúng tôi. Cùng ông và các thiếu nữ con ông, chúng tôi dùng bữa cơm thân mật trong câu chuyện về đồng bào Chăm Nhơn Hội mà ông Mach-ly vui vẻ kể. Đêm, chúng tôi ngủ trên nền sàn nhà khách. Con đường trước nhà im vắng. Thỉnh thoảng tiếng bò rống trong tiếng gió xào xạc lùa qua tán cây đưa chúng tôi vào giấc ngủ dịu êm.

Ẩm thực Chăm Nhơn Hội

Ông Mach-ly nhà ở Búng Bình Thiên (Nhơn Hội, An Phú, An Giang) từng thực hiện các món ăn Chăm cho Công ty Du lịch An Giang. Tại nhà, ông đã tổ chức những bữa cơm Chăm cho nhiều khách phương xa từ hơn hai năm nay.

Mùa cá ra, ông đãi khách bánh xèo. Cá linh sau mấy tháng ở trên đồng lớn mập, cứng xương nên khi làm bánh xèo phải lấy phi lê. Riêng cá linh non đầu mùa nước nổi đổ bánh xèo ăn mới ngon, vì xương mềm. Bánh xèo cá linh gói rau sống vườn nhà cắn miếng nào tê mê đầu răng miếng đó. Cá rô kho trái bứa lạ lẫm khách phương xa. Trái bứa mọc hoang, đặc sản vùng biên nầy, chua thanh, thoảng mùi đất hoang dã. Gỏi bông súng tép đồng cũng hấp dẫn. Cá lóc nướng lửa than ăn kèm rau đồng. Lẩu cá chua. Bữa ăn ngon nhưng khách Việt… buồn vì chẳng có bia, đừng nói rượu nhấm nháp vì đạo Hồi cấm tuyệt đối. Ông nói, với 5 món, ông lấy 500.000 đồng/10 khách.

Mach-ly cho biết nếu được báo trước 1 ngày, ông sẽ bày một bữa cơm thuần Chăm. Cà púa là món thể hiện văn hóa ẩm thực Chăm. Để chế biến món này, người ta cắt tiết con vật đúng quy định đạo Islam (Hồi) rồi mới xả thịt. Phần nạc cắt từng cục (thịt bò) vuông, rửa sạch, ướp gừng sả, xào săn. Trộn với hỗn hợp gia vị khô đặc biệt, để thịt thấm, cho vào chảo xào với hành, tiêu hột. Khi thịt săn bóng, khô nước thì đổ nước cốt (làm sẵn) ngập mặt. Sau đó cho dầu ăn vào chảo cùng bột màu, lá cà ri, xào thơm, gạn bỏ bột và lá, cho thịt vào. Bấy giờ đã có món cà púa màu cánh gián, thơm lừng. Dọn ra bàn bốn người ăn, một dĩa cà púa có 4 miếng thịt, ăn cùng gỏi chua và rau dưa, có khi thêm tô nước súp. Dulichgo

Cà ri – cơm nị là món chính, là cái hồn của bữa tiệc trong gia đình, họ tộc. Phải là người chuyên nghiệp mới dám nấu cơm nị. Cơm nấu bằng gạo lúa sóc (đặc sản Thất Sơn, An Giang), vo sạch, để ráo. Dừa khô nạo nhuyễn, vắt nước, thắng bồng con. Cho chút dầu ăn vào nồi, đun nóng, cho củ hành tím bằm vào, đảo đều đến khi có màu vàng ánh thì cho bơ vào, khử bột cà ri rồi cho gạo vào, xào đều tay. Sau đó cho nước dừa thắng bồng con vào cùng một ít muối, bột ngọt, trộn đều đến khi gạo gần cạn nước thì đậy nắp nồi, để lửa riu riu đến khi cơm chín, có màu vàng nghệ đẹp mắt. Cơm nị ăn với các món quay, nướng, xào… nhưng hợp nhất là ăn với cà ri – như cách người Việt thường nấu, nhưng bột mua từ Malaysia. Những hạt cơm khô mềm dẻo tơi quyện cùng những miếng da và thịt dê đẫm hương vị cà ri giòn dai nhưng không mềm. Món ngon còn nhờ những miếng dưa cải xắt nhỏ, vị mặn chua của muối ớt chanh tươi.

Theo Cát Lộc (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!